Trang chủ
Tư vấn học đường
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên bức thiết khi mà xã hội hiện đại đang tác động tới các em từ quá nhiều phía.Tại sao trong những năm trở lại đây, tỷ lệ trẻ em phạm tội, trẻ em dính vào các tệ nạn xã hội và bỏ nhà, hư hỏng ngày càng nhiều? Đó là một thực trạng đáng buồn hiện nay khi mà chúng ta chứng kiến các em học sinh trung học phổ thông đánh nhau, bắt bạn quỳ xuống chỉ vì lỗi nhỏ. Cha mẹ, thầy cô có nhắc nhở các em lập tức thể hiện thái độ căng thẳng, chống đối. Trong số các trường trung học phổ thông, có không ít các em học sinh nam hút thuốc khi vừa ra khỏi cổng trường, các em bỏ tiết, tham gia vào các cuộc chơi bạn bè. Học sinh nữ đi học nhưng lại nhuộm tóc, ăn mặc sai đồng phục. Đặc biệt là việc chửi bậy. Có lẽ các phụ huynh đã quá quen khi đi ngang qua cổng trường trung học phổ thông thấy các em cả nam, cả nữ văng tục, chửi bậy. Cứ trung bình 1 câu nói thì lại có vài từ chửi bậy tục tĩu. Trên một trang báo mạng, chúng ta bàng hoàng khi nghe con cái của mình là học sinh trung học phổ thông nói : “Teen quan hệ sớm, ai cũng biết chỉ phụ huynh không biết” hoặc  các em coi đây là chuyện hết sức bình thường. Rõ ràng hiện nay quan niệm của một bộ phận học sinh đang rất sai lệch. Dẫu biết rằng đó chỉ là một số nhỏ, tuy nhiên điều đó cũng cho thấy học sinh bây giờ đang thiếu kỹ năng sống rất nhiều.

Kỹ năng sống không phải là một vài kỹ năng chúng ta thường nghe mà bao gồm rất nhiều các kỹ năng cần trang bị cho con cái. Học kỹ năng sống đã được đưa vào các cấp học khác nhau, theo từng độ tuổi, từng cấp học. Nhưng cả người học và người dạy vẫn còn chưa định hình được làm sao cho hiệu quả. Giáo viên cũng không thể tăng số tiết học để giảng bài về kỹ năng sống, mà chủ yếu chèn vào các bài học của một số môn học xã hội.

Học sinh ngày càng có nhiều mối quan hệ ở trường, lớp và cả bạn bè bên ngoài. Những mâu thuẫn nhỏ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày khiến các em dễ dàng bị kích động. Có những trường hợp học sinh trung học phổ thông đánh hội đồng một bạn cùng lớp. Các em tỏ ra nghĩa khí khi giúp bạn đánh người khác, dù người đó chưa từng có hiềm khích gì với mình… Tháng nào trên các trang mạng xã hội chúng ta cũng chứng kiến các em học sinh vẫn mặc đồng phục trên người mà nhảy vào đánh, đấm, tát và lăng mạ bạn của mình bằng những lời lẽ thiếu văn hóa. Bố mẹ có con đi học; con càng lớn bố mẹ càng phải đối mặt với nhiều lỗi lo. Có phụ huynh còn tâm sự “định chuyển trường cho con, vì con làm lớp trưởng, bị học sinh cá biệt trong lớp dọa đánh, dọa chăn đường…” Liệu rằng chuyển trường có phải là giải pháp tốt. Lại có em cãi bố mẹ, vùng vằng bỏ nhà đi, ép bố mẹ phải cho tiền, mua thứ này thứ kia… Tất cả những hiện tượng trên đều do các em đang thiếu kỹ năng sống một cách trầm trọng. Thiếu kỹ năng làm chủ bản thân, cảm xúc, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bảo vệ bản thân khỏi những tác hại tiêu cực, kỹ năng ứng xử…

Thiếu kỹ năng sống: học sinh khó có thể hình thành thói quen, nhân cách và lối sống tốt trong tương lai: Trẻ em được trang bị kỹ năng sống càng sớm thì càng vững vàng và dễ hoàn thiện bản thân. Những trẻ em từ nhỏ không được trang bị các bài học thiết thực từ bé, hoặc thường xuyên nghe cha mẹ cãi vã nhau, hoặc cha mẹ không có phương pháp giáo dục tối ưu… thì thường sai lệch trong suy nghĩ và lối sống. Đặc biệt trong môi trường xã hội hiện nay, có rất nhiều những hiện tượng tiêu cực tác động vào khiến nếu như không tự làm chủ được bản thân, các em dễ dàng hư hỏng.

Việc học kỹ năng sống không chỉ quan trọng đối với học sinh ở thành phố hay các học sinh ở quê. Mà dành cho tất cả các em, cần thiết cho tất cả các em. Chỉ khi được trang bị kỹ năng sống một cách đầy đủ các em mới có thể học và trưởng thành toàn diện về mọi mặt. Các bậc cha mẹ cũng cần lưu ý, không chỉ có nhà trường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, mà bản thân gia đình cũng cần là một môi trường giáo dục tốt để con cái học tập.

Đứng trước hiện trạng học sinh trong những năm gần đây, chúng ta cần nhìn nhận rõ ràng về đạo đức và kỹ năng của các em đang có. Cần có những biện pháp tác động toàn diện thay vì ép con học kiến thức quá nhiều mà không dành thời gian trang bị kỹ năng, hoặc cha mẹ bỏ mặc sự phát triển tự nhiên của trẻ. Giáo dục là một quá trình liên tục, lâu dài và bài bản. Vậy nên hãy dạy con làm người trước khi thành tài.

Với những lí do cấp thiết trên, chúng tôi xây dựng và triển khai Đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông”.

II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 

  • Hệ thống lý luận về giá trị sống và kỹ năng sống;
  • Tâm sinh lý học sinh trung học phổ thông;
  • Học sinh trung học phổ thông;
  • Giáo viên trung học phổ thông và các cán bộ làm công tác giáo dục kỹ năng sống.

III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA CHUYÊN ĐỀ

1. Mục đích nghiên cứu:

Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông.

2. Đóng góp mới của chuyên đề:

- Làm cho giáo viên và học sinh hiểu rõ giá trị sống và kỹ năng sống;

- Xây dựng cơ sở lý luận về tâm sinh lý lứa tuổi trung học phổ thông để từ đó cung cấp cho giáo viên và phụ huynh học sinh cách ứng xử, hành xử cho phù hợp với học sinh;

- Xây dựng hệ thống các ký năng ứng xử nhằm Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông.

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành nhiệm vụ của chuyên đề, tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận;

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

- Phương pháp điều tra xã hội học.

V. CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ

            Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo chuyên đề được chia thành 03 phần như sau:

PHẦN 1: GIÁ TRỊ SỐNGVÀ KỸ NĂNG SỐNG

PHẦN II: ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH THPT

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HIỆU QUẢ CÁC GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

 

PHẦN 1

 GIÁ TRỊ SỐNG VÀ KỸ NĂNG SỐNG

A. GIÁ TRỊ SỐNG

I. GIÁ TRỊ, VĂN HÓA VÀ BẢN SẮC

1. Thế nào là giá trị, hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị?

a. Giá trị

Giá trị là khái niệm còn nhiều tranh cãi. Đã có nhiều quan điểm đưa ra khi nói về giá trị. Việc lý giải sự thống nhất và đa dạng của thế giới giá trị phụ thuộc vào cách tiếp cận của chúng ta.

      Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội.

Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách. Theo quan điểm này, thế giới chủ quan của con người được xem xét như nguồn gốc của giá trị. Những mục đích của cá nhân, những cảm xúc riêng tư, ý chí và những nhu cầu, hay những định hướng của cá nhân hình thành trong xã hội đã được qui chiếu bởi những giá trị nào đó. Còn chính giá trị lại được hiểu như bất kỳ một vật nào đó có ý nghĩa, có giá trị đối với con người. Trong công trình "Về tâm lý học tồn tại' của A.Maslow đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968, ông cho rằng tồn tại ba mức độ giá trị:

  • Thứ nhất - đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người.
  • Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất định.
  • Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù.

Như vậy, giá trị là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Giá trị là các khách thể vật chất hay tinh thần có khả năng thoả mãn những nhu cầu nào đó của con người, giai cấp, xã hội và đáp ứng những mục đích và lợi ích của họ.

      Theo Kinh tế học, khái niệm giá trị luôn gắn liền với hàng hóa, giá cả và sản xuất hàng hóa. Phía sau nó là sức lao động, giá trị lao động của con người làm ra hàng hóa. Giá trị sức mạnh của vật chất này khống chế những vật chất khác khi trao đổi. Để bộc lộ giá trị, vật phẩm phải có ích lợi, nghĩa là có khả năng thỏa mãn nhu cầu, lòng ham muốn của con người. Do vậy mà khi phân tích, “giá trị” là vị trí tương đối của hàng hóa trong trật tự ưu tiên, vị trí của nó ngày càng cao thì giá trị của nó ngày càng lớn.

      Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi xem xét theo quan điểm Macxit, giá trị được coi là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người. Giá trị là sự thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan.

      Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liến với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội.

      Tóm lại, khái niệm giá trị đều có các đặc điểm như sau:

  • Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó.
  • Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần thiết để tạo ra cái lợi đó.
  • Mang tính khách quan – nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người.
  • Được hiểu theo hai góc độ: vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người khoái cảm, hứng thú và sảng khoái.
  • Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị.
  • Là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng.

b. Hệ giá trị

Hệ giá trị (hay còn gọi là hệ thống giá trị) là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị. Các hệ giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ bậc phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Do vậy, hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử xã hội và chịu sự chế ước bởi lịch sử - xã hội. Trong hệ thống giá trị có chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và có thể cả những nhân tố trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân loại, tính dân tộc, tính cộng đồng, tính giai cấp, tính lý tưởng và tính hiện thực v.v...

Thí dụ, 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng là hệ giá trị dành cho thế hệ trẻ:

  1. Yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào
  2. Học tập tốt, lao động tốt
  3. Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
  4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
  5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.

c. Thang giá trị

Thang giá trị (thước đo giá trị) là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định.

Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của xã hội loài người, cộng đồng và từng cá nhân. Trong quá trình biến đổi đó, thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang giá trị của từng người, cứ thế qua từng giai đoạn lịch sử của con người.

Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động. Hoạt động được tiến hành theo những thang giá trị cụ thể sẽ tạo nên những giá trị nhất định, phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người. Chính trong hoạt động tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy, bổ sung, hoàn thiện hoặc hay đổi thang giá trị.

Thí dụ, thang giá trị về vai trò của người thầy: Dân tộc ta có truyền thống “tôn sư trọng đạo”. Thời phong kiến, trong bậc thang giá trị, nhà giáo xếp sau vua nhưng trước cha mẹ:  “Quân – Sư – Phụ”.

d. Chuẩn giá trị

Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người. Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, chính trị, đạo đức, xã hội, hay thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị. Mọi hoạt động của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời tạo ra những giá trị tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người. Thí dụ: lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

 

2. Mối quan hệ giữa giá trị với văn hóa và bản sắc

a. Văn hóa và giá trị

Văn hoá là một giá trị, một ý nghĩa, một lối sống bất khả phân với con người. Con người là con người bởi có văn hoá; văn hoá là văn hoá bởi từ con người và cho con người.

Văn hoá thiết yếu được hình thành trong cộng đồng, xã hội hơn là mang lấy hình ảnh trọn vẹn của một cá nhân đơn độc. Tuy vậy văn hoá cá nhân không thể bị xem nhẹ, bởi nó là sự đào luyện đầu tiên tạo tiền đề cho con người có thể hội nhập vào đời sống văn hoá của xã hội. Văn hóa cá thể và văn hóa xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau. Văn hóa xã hội làm cho mỗi cá nhân có thể đào luyện thành người, văn hóa cá thể góp phần phát triển văn hóa xã hội, cộng đồng. Mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có văn hóa của riêng mình và văn hóa chung. Rõ ràng, dân tộc nào cũng có nền văn hoá mang diện mạo đặc thù khác nhau. Và, con người nào cũng có văn hoá, chỉ có mức độ văn hoá ở mỗi người khác nhau.

Muốn trở thành văn hoá, một con người, một gia đình, một xã hội phải đào luyện, chắt lọc mình trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng thể thức, từng thái độ. Và một nền giáo dục phải nhắm đến mục đích đào tạo những con người có bản lĩnh cho xã hội khao khát theo đuổi giá trị văn hoá, như Bogoslovski nói: “Nền giáo dục phải giúp đỡ học sinh sống đời sống thịnh vượng và ý nghĩa, nó phải xây nên những nhân cách có khả năng hoà điệu và phong phú, giúp học sinh có khả năng tham dự vào ánh sáng chói loà nhất của vinh quang hạnh phúc cũng như có thể đối mặt với đau khổ một cách đầy phẩm hạnh và cam lòng thủ đắc, và cuối cùng họ có thể giúp đỡ người khác sống cuộc đời cao thượng”. Đào luyện con người văn hoá, trước hết là đào luyện một nền văn hoá toàn diện cho con người, và sau đó con người đó sẽ mang theo hành trang văn hoá của mình gia nhập cuộc hành trình của xã hội. Một công dân được giáo dục văn hoá là công dân có khả năng tham dự vào xã hội bằng một tấm lòng nhân ái, một thái độ cư xử lịch lãm, đúng mực, và một tâm hồn cao thượng. Một xã hội chỉ có thể trở thành văn hoá với những công dân đã được đào luyện văn hoá, và nền văn hoá đó giúp cho mọi người được sống trong ánh sáng nhân bản.

Con người mong muốn càng ngày càng trở nên con người hơn. Nhân loại mong muốn tiến đến một nhân loại tiến bộ hơn. Văn hoá hướng tới một nền văn hoá ngày càng cao, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn.

Giá trị văn hóa chính là những hình thức, phương thức hoạt động - quan hệ làm cho con người trở thành chủ thể tự do và sáng tạo.

b. Bản sắc và giá trị

Như chúng ta biết chương trình giáo dục của mỗi quốc gia chính là sự cô đọng các giá trị văn hóa của một đất nước, một dân tộc, một thời đại. Chính vì thế mà mỗi lần cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa là một lần đánh giá lại các giá trị văn hóa, là một lần thay đổi lại bảng giá trị văn hóa để sản xuất con người đạt hiệu quả cao, đáp ứng những đòi hỏi mới của cuộc sống.

Nhưng sự đánh giá lại theo định hướng nào? Theo định hướng hình thành con người tự do và sáng tạo. Tự do và sáng tạo luôn đi kèm với khuôn mẫu và kế thừa, luôn đi kèm với hiện đại, tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Nhìn nhận một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy bảng giá trị chính là kết quả trong quan hệ giá trị của con người với hiện thực hay nói chính xác hơn, trong quan hệ giá trị của chủ thể đánh giá với các sự vật, hiện tượng mang giá trị. Vậy thì các giá trị nằm ở đâu? Ở chủ thể đánh giá hay ở sự vật hay ở chính không gian đặc thù được hình thành nhờ quan hệ giá trị. Như vậy, chính trong quá trình làm lại tự nhiên bởi con người và làm lại con người bởi con người, một không gian đặc thù cho sự tồn tại của loài người đã được hình thành: giá trị quyển. Không gian đặc thù này tạo nên cái bản sắc riêng của các giá trị. Mỗi bản sắc đều có giá trị riêng của mình. Mỗi cá nhân hay xã hội đều mang trong mình những giá trị bản sắc và giá trị chung.

 

II. GIÁ TRỊ SỐNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ SỐNG

  1.  Giá trị sống (hay giá trị cuộc sống)

Ở phần trên khái niệm giá trị đã được bàn đến từ nhiều góc độ. Tựu trung, có 2 loại giá trị cơ bản: giá trị kinh tế và giá trị về tâm lý xã hội, trong đó giá trị kinh tế hướng tới chủ yếu thế giới vật thể, còn giá trị tâm lý xã hội hướng đến các giá trị cuộc sống, liên quan nhiều đến giá trị đạo đức và thái độ của con người đối với cuộc sống xã hội...

Giá trị cuộc sống (hay giá trị sống) là những điều chúng ta cho là quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người. Giá trị sống trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó. Giá trị sống mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Có người cho rằng "tiền bạc là trên hết". Có người cho rằng tình yêu thương mới là điều quý giá nhất trên đời. Có người coi trọng lòng trung thực, hay sự bình yên…

Giá trị sống là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người. Giá trị sống về bản chất là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận. Giá trị sống là quy tắc sống, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Những giá trị phổ biến của đạo đức thể hiện trong các khái niệm: thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm…

  1.  Định hướng giá trị sống

        Tuy có định nghĩa cách này hay cách khác, song các khái niệm trên đều thống nhất ở các điểm sau:

- Định hướng giá trị là hiện tượng tâm lý có nguồn gốc khách quan, nảy sinh trong quá trình hoạt động, tác động tích cực qua lại giữa con người và thế giới khách quan trên cơ sở nắm vững hệ thống kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người.

- Có sự phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người, là sự xác định giá trị của cá nhân trên cơ sở đó hình thành lối sống, phong cách giao tiếp và toàn bộ hành vi cá nhân. Chính vì vậy việc xác định thang giá trị và thực hiện các hành vi trên cơ sở lựa chọn các giá trị đó chính là định hướng giá trị của cá nhân.

- Định hướng giá trị như là xu hướng nhân cách hướng tới giá trị nào đó, là cơ sở điều chỉnh hành vi con người và là thành phần trong cấu trúc nhân cách.

Các giá trị của con người rất phong phú và đa dạng mà con người lại sống trong môi trường xã hội, tham gia vào các hoạt động đa dạng, do vậy việc phân loại định hướng giá trị cũng rất phức tạp, song có thể chấp nhận một số cơ sở phân loại phổ biến như sau:

* Nếu căn cứ vào ý nghĩa xã hội hay cá nhân của những mục đích mà con người hướng tới, thì có 2 loại:

+ Định hướng giá trị xã hội: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân trong quan hệ với xã hội như lòng thương người, chấp hành luật pháp, lịch sự nơi công cộng, biết ơn thế hệ trước...

+ Định hướng giá trị cá nhân: là thái độ, là sự lựa chọn các giá trị trong mối quan hệ với bản thân như lòng trung thực, sự khiêm tốn, vị tha, yêu cầu cao, chấp nhận thử thách...

* Nếu căn cứ vào đối tượng của sự định hướng giá trị ta có:

+ Định hướng giá trị vật chất: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị vật chất như tiền bạc, của cải, cách làm giàu...

+ Định hướng giá trị tinh thần: là thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tinh thần như sự thanh thản, tình yêu nghệ thuật, yêu thương con người...

* Căn cứ vào ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những giá trị mà con người đang theo đuổi ta có:

+ Định hướng giá trị tích cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tích cực như trung thực, thẳng thắn, giúp đỡ, thương người, tự hào dân tộc...

+ Định hướng giá trị tiêu cực: thái độ, sự lựa chọn các giá trị của cá nhân hướng tới các giá trị tiêu cực như dối trá, hèn nhát, ích kỷ...

Vai trò của định hướng giá trị sống

            Định hướng giá trị giúp con người lập chương trình cho hành động của mình trong một thời gian dài, quy định đường lối chiến lược cho hành vi, đồng thời định hướng giá trị có thể quy định trực tiếp hành vi thậm chí từng thao tác, động tác của con người.

            Định hướng giá trị là nhân tố trung tâm chi phối mọi suy nghĩ, điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người, từ đó hướng hoạt động tới mục đích cơ bản của cuộc đời.

III. GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM VÀ GIÁ TRỊ NHÂN LOẠI

1. Các giá trị truyền thống

Việt Nam là một nước nông nghiệp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam với mưa nắng thất thường gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa nên đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc Việt Nam, tạo nên sự gắn bó cộng đồng làng xã bền chặt, sự thương yêu đùm bọc “tắt lửa tối đèn” có nhau, tạo nên tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc nên người Việt Nam phải hy sinh nhiều lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ những lợi ích chung.

Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi, Việt Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ dàng thâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Bằng thuyết nhân quả luân hồi, ở hiền gặp lành, Phật giáo khuyến khích con người ăn ở nhân đức để có được cuộc sống tốt đẹp trong thế giới mai sau. Phật giáo cũng củng cố cách sống nhân nghĩa, chân tình của người Việt Nam.

Chính đặc điểm hình thành và phát triển của xã hội Việt Nam đã làm cho các giá trị đạo đức được bồi đắp thường xuyên trong suốt chiều dài lịch sử. Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhân cách con người Việt Nam.

a. Tinh thần yêu nước

Trong các giá trị, nổi bật nhất là tinh thần yêu nước. Tinh thần yêu nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc". Thực ra, trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau. Ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểm của mọi tiêu điểm". Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc.

Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân. Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định.

Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trình xây dựng đất nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đất nước. Trên thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đất nước, chống xâm lăng. Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam. Nhận xét về truyền thống yêu nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó bước qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước".

b. Yêu thương con người

Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu quý con người - "người ta là hoa của đất". Chính trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: con người là vốn quý hơn cả, không có gì có thể so sánh được. Mọi người luôn luôn "thương người như thể thương thân" và vì lẽ đó, trong quan hệ đối xử hàng ngày, người Việt Nam luôn coi trọng tình, luôn đặt tình nghĩa lên trên hết - "vì tình vì nghĩa ai vì đĩa xôi đầy". Chữ "tình" chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân. Trong gia đình, đó là tình cảm vợ chồng "đầu gối tay ấp", tình anh em "như thể tay chân", tình cảm đối với bố mẹ: "Công cha như núi Thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm: "Sớm khuya tối lửa tắt đèn có nhau”. Và, rộng hơn cả là tình yêu đất nước: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng", "Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy là khác giống nhưng chung một giàn"... Chính sự coi trọng chữ "tình" mà trong những xung đột, người Việt Nam thường cố gắng giải quyết theo phương châm "có lý có tình", "chín bỏ làm mười". Bởi với họ, tình cảm co

Đăng bình luận