Trang chủ
Tư vấn học đường
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN VẬT LÍ CHO HỌC SINH LỚP 10 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ HỌC MÔN VẬT LÍ CHO HỌC SINH LỚP 10 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

NGƯT. ThS Lưu Hải An – Hiệu trưởng trường THPT Ngô Sĩ Liên

 

1.  Nhóm giải pháp đối với cán bộ quản lý các nhà trường

- Đổi mới hình thức và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.

- Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.

- Nâng cao nhận thức của học sinh về vai trò của hoạt động tự học, giúp học sinh có những phương pháp tự học tốt nhất, hoàn thành nhiệm vụ học tập theo mục đích, yêu cầu đề ra. Thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn hướng dẫn cho học sinh xây dựng kế hoạch tự học, phương pháp tự học, tự nghiên cứu, vận dụng các kỹ năng phù hợp trong việc học tập của mình.   

- Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức tự học cho học sinh. Nhà trường phải có kế hoạch phối hợp chặt chẽ các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động tự học của học sinh. 

- Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học và những ứng dụng kĩ thuật, hiện tượng, quá trình trong thực tiễn, từ đó xây dựng thành chuyên đề dạy học đơn môn. Trường hợp có những nội dung kiến thức liên quan đến nhiều môn học, xây dựng các chủ đề tích hợp, liên môn. Chỉ đạo tổ chuyên môn và giáo viên xây dựng Tài liệu nâng cao năng lực môn Vật lí cho học sinh lớp 10 được viết gắn liền với từng đơn vị bài học trong sách giáo khoa theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.

2. Nhóm giải pháp đối với giáo viên môn Vật lí

- Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự trao đổi, định hướng trực tiếp với học sinh. Mỗi hoạt động học được tổ chức thực hiện theo các bước như sau:

            (1) Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Nhiệm vụ học tập rõ ràng và phù hợp với khả năng của học sinh, thể hiện ở yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ; hình thức giao nhiệm vụ sinh động, hấp dẫn, kích thích được hứng thú nhận thức của học sinh; đảm bảo cho tất cả học sinh tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.

            (2) Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên".

            (3) Báo cáo kết quả và thảo luận: hình thức báo cáo phù hợp với nội dung học tập và kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng; khuyến khích cho học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về nội dung học tập; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí.

            (4) Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức mà học sinh đã học được thông qua hoạt động.

- Tổ chức tự học ở nhà nhằm phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh:

Nội dung hoạt động tự học ở nhà của học sinh phải được giáo viên thiết kế có chủ định và có kế hoạch. Hoạt động tự học ở nhà môn Vật lí  gồm những nội dung sau đây: Dạy học sinh đọc và hiểu bài học trong sách giáo khoa (làm việc với sách giáo khoa); Áp dụng kiến thức theo mẫu, áp dụng kiến thức vào những tình huống đơn giản, quen thuộc;  Áp dụng kiến thức vào những tình huống không quen thuộc, có yếu tố sáng tạo; Quan sát hiện tượng vật lí, tự phân tích và giải thích; Hệ thống hóa và khái quát hóa kiến thức.

- Biên soạn Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và Phiếu học tập; Tổ chức cho học sinh tự giải bài tập Vật lí

Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và Phiếu học tập cung cấp thông tin cho người học để người học xử lí thông tin phục vụ cho bài học; công cụ để học sinh hoạt động và giao tiếp trong học tập. Tài liệu hướng dẫn học sinh tự học phải đảm bảo các nội dung sau:

(1). Câu hỏi, bài tập dưới dạng tổng hợp nhằm giúp học sinh củng cố, hệ thống hóa kiến thức đã học. Nội dung câu hỏi, bài tập này không phải lặp lại những kiến thức đã học trên lớp hoặc có sẵn trong sách giáo khoa, mà đòi hỏi phải phát hiện thêm một khía cạnh mới của vấn đề, hoặc mở rộng, nâng cao những điều đã học sâu sắc hơn.

(2). Câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh giải thích, bình luận những ý kiến, nhận định, kết luận, hiện tượng, quá trình,... nhằm rèn luyện kĩ năng phân tích, lí giải, lập luận, chứng minh cho các em.

(3). Câu hỏi, bài tập thực hành nhằm rèn luyện kĩ năng kĩ xảo, qua đó giáo dục tính kiên trì, sự chính xác; đồng thời góp phần củng cố hệ thống kiến thức đã học.

(4). Ôn tập, tổng kết chương là nội dung có thể phát triển nhiều kĩ năng và nhiều loại tư duy cho học sinh. Các câu hỏi thường dùng khi ra bài tập củng cố, ôn tập cho học sinh:  Những vấn đề cơ bản của chương là gì? Những vấn đề đó liên quan đến nhau như thế nào? Người ta sử dụng những phương pháp nào để chứng minh các định lí? Sắp xếp và phân loại nhóm các định lí có cùng phương pháp chứng minh; Có cách nào khác để đưa ra hoặc thành lập các khái niệm có trong chương không? Có cách nào khác để chứng minh các định lí có trong chương không? Trong chương có các loại bài tập nào? Có thể ứng dụng những gì vào thực tế (nội dung, phương pháp, tư tưởng) thông qua các kiến thức của chương?

 Sử dụng phiếu học tập và Tài liệu hướng dẫn trong dạy học sẽ phát huy được tính tích cực, tự lực học tập của học sinh. Phiếu học tập cụ thể hóa các nhiệm vụ học tập thành các vấn đề, các bài tập, các câu hỏi cùng với những hướng dẫn, những gợi ý về cách thực hiện của giáo viên. Học sinh có thể hoạt động độc lập, cũng có thể hợp tác theo nhóm để thực hiện nhiệm vụ. Việc sử dụng phiếu học tập một cách thường xuyên tạo cho học sinh một thói quen tự giác và chủ động trong học tập.

 Phiếu học tập phải thể hiện được phương pháp hoạt động và giao tiếp của học sinh: những câu hỏi, bài tập và tình huống đặt ra cho học sinh đó là những mệnh lệnh, những gợi ý của giáo viên cũng chính là những gợi ý về phương pháp hoạt động và các thao tác tư duy để thực hiện mệnh lệnh đó.

 Việc giải bài tập có nhiều lợi ích cho học sinh như: nâng cao năng lực làm việc tự lực và tính kiên trì, phát triển tư duy sáng tạo do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xây dựng những lập luận. Ngoài việc rèn luyện các kĩ năng giải bài tập mà mục đích cơ bản của việc giải bài tập là làm cho học sinh hiểu sâu sắc những quy luật vật lí, biết phân tích và áp dụng vào thực tiễn, vào tính toán kĩ thuật và cuối cùng là phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề.

- Tổ chức cho học sinh tự củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức

Mỗi bậc thang của việc học (tri giác tài liệu mới, hiểu thấu, ghi nhớ, luyện tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn, hệ thống hóa, khái quát hóa) sẽ nâng cao trình độ trí tuệ của học sinh hơn, kích thích tính ham hiểu biết và tích cực tư duy của các em.

Các khái niệm khoa học không được hình thành ngay tức khắc ở học sinh mà phải trả qua nhiều mức độ, nhiều giai đoạn. Ở mỗi giai đoạn, trí nhớ lại giàu thêm những tài liệu sự kiện, sự phân tích lại sâu sắc và toàn diện hơn, làm cho những kết luận, những khái quát hóa hoặc những quy tắc đã được  lĩnh hội biến thành tài sản trí tuệ của học sinh. Chính vì vậy mà việc tiếp tục củng cố và kiểm tra kiến thức của học sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong lý luận dạy học.

Hoạt động củng cố bài thường tiếp diễn sau khi học sinh học bài mới nên ở một mức độ nhất định, sự tái hiện kiến thức là đặc trưng của các dạng hoạt động đó. Việc củng cố và đào sâu hơn kiến thức thực chất là: sau khi trình bày kiến thức mới, phát biểu các kết luận và khái quát hóa (khái niệm), giáo viên dẫn học sinh tới những sự kiện và thí dụ mới, nhưng bây giờ nhằm mục đích củng cố rộng rãi hơn các khái quát hóa đã đạt được, giải thích chúng sâu sắc hơn và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

Tùy nội dung kiến thức; điều kiện thực tế của nhà trường; năng lực của giáo viên và học sinh, có thể xác định một trong các mức độ sau:

            Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

            Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

            Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

           Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

- Tổ chức cho học sinh tự quan sát hiện tượng và làm thí nghiệm vật lí ở nhà.

Quan sát hiện tượng và làm thí nghiệm vật lí ở nhà là một loại bài làm mà giáo viên giao cho từng học sinh hoặc các nhóm học sinh thực hiện ở nhà.

Ví dụ: Sau khi học xong bài  Động lượng. Định luật bảo toàn động lượng, giáo viên ra các bài tập như sau:

a. Em hãy chế tạo một chiếc tên lửa nước trong đó hoạt động của tên lửa dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực. Cho trước các dụng cụ: Một chai coca lớn, một nút cao su, một van xe đạp, bơm xe, tấm nhựa, keo dán tổng hợp, kéo, dây thép.

b. Em hãy chế tạo một chiếc thuyền phản lực trong đó hoạt động của thuyền dựa trên nguyên tắc chuyển động bằng phản lực. Cho trước các dụng cụ: Một lon kín (chứa nước 1/3 lon) để làm động cơ, nắp của một hộp xà phòng lớn để làm thuyền, nến, dây kim loại, nút.

- Tổ chức học nhóm

- Khi các em chuẩn bị bài mới và củng cố bài cũ, giáo viên nên phân nhóm theo khu vực để các em tiện liên lạc với nhau. Còn khi làm thí nghiệm ở nhà thì nên phân nhóm theo sở thích của học sinh. Nhưng cũng phải chú ý sao cho trong một nhóm có cả học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình, học sinh yếu.

- Giáo viên cần có sự hỗ trợ học sinh khi cần thiết. Trong quá trình theo dõi hoạt động của các nhóm, giáo viên cần đưa ra những gợi ý, nhắc lại những biện pháp và cách thức để hoàn thành công việc được giao. Đối với những nhóm chưa thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tích cực, cần đến gần và cùng tham gia với các em.

3. Nhóm giải pháp đối với chủ nhiệm

- Giáo dục cho học sinh động cơ, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về sự cần thiết và lợi ích của hoạt động tự học. Giới thiệu cho các tấm gương tự học sáng tạo, nhiều em học sinh có phương pháp tự học để đạt kết quả cao trong kỳ thi đại học ở trường. Giảng dạy cho học sinh về bản chất của tự học và các kỹ năng cần thiết của tự học.

- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và giáo viên chủ nhiệm để kịp thời thông báo tình hình học tập của học sinh ở nhà trường và ở nhà. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải là chiếc cầu nối giữa gia đình và nhà trường; giữa giáo viên và học sinh.

- Kết hợp với các giáo viên bộ môn giảng dạy giúp các em luôn nhận thức vấn đề đúng, phê phán hiện tượng sai, trình bày quan điểm của mình về một vấn đề trong trong học tập hoặc giải quyết tình huống thực tế để tích lũy kinh nghiệm học tập và kỹ năng sống.

4. Nhóm giải pháp đối với học sinh lớp 10

Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do người học tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình. Tự học là một cách học, trong đó người học phải tự giác, tích cực, chủ động, độc lập chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó của cuộc sống nhằm đạt được mục đích nhất định. Học sinh cần phải có các kỹ năng sau:

(1). Kỹ năng lập kế hoạch tự học: Biết xác định mục tiêu học tập rõ ràng ;Biết lựa chọn các vấn đề tự học cần thiết; Biết lựa chọn phương pháp tự học thích hợp; Bố trí thời gian hợp lý thời gian tự học các môn; Đảm bảo hợp lý thời gian giữa học tập và nghỉ ngơi; Biết chủ động chuẩn bị các điều kiện cho việc tự học;                       

(2). Kỹ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ học tập: Biết làm việc với sách và tài liệu tham khảo một cách chủ động và khoa học; Biết hệ thống hoá kiến thức đã học; Biết học và thảo luận theo tổ, nhóm một cách chủ động; Học theo cá nhân, tự mình phát hiện vấn đề tự học và nghiên cứu; Biết tập hợp thắc mắc; tổ chức trao đổi với thầy và với bạn; Chủ động vận dụng lý thuyết đã học vào giải các bài tập cụ thể; Khả năng phân tích và đối chiếu những kiến thức đã học với thực tiễn và phát hiện những mâu thuẫn trong quá trình tự học; 

(3). Kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá: Có khả năng tự đánh giá điểm mạnh, yếu trong tự học; Có khả năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và tự điều chỉnh hành vi của mình.     

5. Nhóm giải pháp đối với cha, mẹ học sinh

- Nhà trường hướng dẫn cho phụ huynh cách sử dụng vở luyện đề và các chuyên đề thiết kế theo hướng tự học. Vai trò của phụ huynh, nhà trường, thày cô giáo trở thành người hướng dẫn, định hướng đồng thời làm giám sát cho cả quá trình tự học, tự kiểm tra, đánh giá.

- Cha mẹ cần phải giúp con xác định rõ việc học là trách nhiệm của con. Cha mẹ cần phải tạo cho con môi trường học tập thoải mái, hỗ trợ và định hướng mỗi khi con gặp vấn đề khó khăn; cha mẹ phải chủ động hướng dẫn con xây dựng thời gian biểu.

- Liên hệ chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn: Giúp cho cha mẹ nắm được sự tiến bộ hay chậm tiến của con trong việc học tập. Từ đó sẽ có lời khuyên, động viên kịp thời.

- Kiểm tra bài tập được giao về nhà: Việc đôn đốc, kiểm tra bài vở đối với con là cần thiết. Thông qua tài liệu tự học môn Vật lí thì công việc này lại khá đơn giản. Bởi lẽ, học sinh sẽ làm trực tiếp vào vở luyện đề theo từng đơn vị bài học. Trong trường hợp cần thiết, cha mẹ có thể liên lạc trực tiếp với giáo viên bộ môn để có thông tin về công việc mà con cần phải hoàn thành.

6. Kết luận

Quá trình dạy học các tri thức được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và của học sinh trong sự tương tác thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: Giáo viên - Học sinh - Tư liệu hoạt động dạy học. Trong quá trình dạy học, học sinh là chủ thể nhận thức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Để nâng cao năng lực tự học môn Vật lí, phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên. Đặc biệt để hoàn thiện kĩ năng tự học môn Vật lí, người học cần thực hiện tốt các nội dung sau đây:

- Học sinh phải xác định rõ nội dung tự học: Tìm hiểu kiến thức mới; Giải bài tập vật lí ; Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức vật lí; Tìm phương án giải quyết vấn đề thực tiễn, kĩ thuật đặt ra cho môn vật lí. Học sinh phải hình dung xem, để giải quyết được nhiệm vụ đó thì cần phải có những kiến thức vật lí nào? Phải có những công cụ gì? Không gian để thực hiện như thế nào? Thực hiện một mình hay phải có sự hỗ trợ của người khác? Thời gian mất độ bao lâu?

- Học sinh cần phải lựa chọn hình thức tự học: có thầy hướng dẫn, độc lập hoàn toàn hay thảo luận, tranh luận với bạn bè;

- Lựa chọn biện pháp tự học: tập hợp tài liệu, đọc tài liệu, giải bài tập, làm thí nghiệm, tổ chức quan sát tự nhiên; Vạch ra thứ tự các bước tự học một cách hợp lí;

- Học sinh phải thực hiện các bước tự học: Tập hợp các tài liệu, tư liệu, dụng cụ vật lí; Tự đọc, nghiên cứu, tranh luận để bổ sung các kiến thức cần thiết; Xin ý kiến hướng dẫn thêm của thầy giáo (nếu cần); Tự làm thí  nghiệm vật lí hoặc tự tổ chức quan sát hiện tượng vật lí, thu thập thông tin, xử lý định hướng để trừu tượng hóa, khái quát hóa thành kiến thức mới hay khẳng định hoặc bác bỏ một hệ quả vật lí; Tự xác định các bước và giải hoàn thiện một loại bài tập vật lí nào đó; Tự lập bảng hoặc lập sơ đồ, cây kiến thức vật lí để hệ thống hóa kiến thức vật lí);

- Học sinh đánh giá kết quả tự học của mình để rút ra những kết luận, nhận xét cần thiết: Đã hoàn tất các bước theo kế hoạch chưa? Có chỗ nào thực hiện chưa đúng như kế hoạch đã vạch ra? Kết quả đạt được đúng như dự kiến hay sai lệch so với dự kiến? Vì sao? Cần điều chỉnh khâu nào trong các khâu: thực hiện, định hướng, định chuẩn ban đầu hay khâu lập kế hoạch tự học.

Đăng bình luận