Trang chủ
Thế hệ các nhà giáo qua các thời kỳ
THẦY LÊ XUÂN PHÙNG - HIỆU TRƯỞNG ĐẦU TIÊN

THẦY LÊ XUÂN PHÙNG - HIỆU TRƯỞNG ĐẦU TIÊN

ĐÔI NÉT VỀ  THẦY LÊ XUÂN PHÙNG - HIỆU TRƯỞNG ĐẦU TIÊN

Ông gốc người làng Vẽ (Đông Ngạc) một làng khoa bảng có danh thuộc huyện Từ Liên, Hà nội. Sinh trưởng trong một gia đình nho giáo, có tham gia Đông Kinh nghĩa thục và phong trào Cần Vương. Thưở nhỏ, học chữ Hán đến năm 16 tuổi mới chuyển qua học quốc ngữ. Tư chất thông minh sáng dạ. Học rất giỏi, các kỳ thi thường chiếm ngôi thủ khoa. Đã tốt nghiệp cao đẳng sư phạm Đông Dương 1922. Do đỗ hạng ưu nên được điều về dạy trường Bưởi ( tức trường Chu Văn An), Hà Nội. Năm 1923, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh mất tại Huế, giới sĩ phu hà thành tổ chức lễ truy điệu. Mặc dù đã có lệnh cấm thầy trò trường quốc lập dự lễ tưởng niệm, nhưng thầy Phùng không những cho phép học sinh nghỉ học, lại còn khuyến khích cùng thầy đi dự. Chính vì hành động bất tuân thượng lệnh này mà thầy đã bị Nha học chính gọi lên nạt nô và đã đẩy lên dạy tỉnh miền núi nơi ma thiêng nước độc. Thầy đã đấu lý đến cùng và điềm nhiên rút trong túi ra lá đơn xin thôi việc đã chuẩn bị sẵn, vứt xuống bàn, và đàng hoàng báo cho biết sẽ ra dạy ở trường Tư thục Thăng Long, là một trường có xu hướng tiến bộ lúc bấy giờ. Nhưng sau đó bọn chúng đấu dịu, tuyệt không đả động gì đến việc thuyên chuyển nữa mà ngấm ngầm chờ cơ hội. Khoàng năm 1924-1925, chúng điều thầy về tỉnh Kiến An, phụ trách các trường tiểu học. Năm 1930, thầy sang Hải Phòng dạy trường Thành Chung Bonnal, chủ yếu dạy môn toán, ngoài ra còn dạy luận Việt văn và cả về Kỹ thuật. Thầy dạy toán giỏi có tiếng, được học sinh rất ca ngợi. Thầy lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, tác phong rất tự tin và đàng hoàng trước đồng nghiệp cùng thời đều biết: một giáo sư toán người Pháp là Brachet, dưới danh nghĩa thanh tra đến dự giờ. Thầy đã dùng sách toán do chính Brachet soạn để giảng cho học sinh. Thầy ngang nhiên phê phán cách giải trong sách là quá dài và đưa ra những cách giải khác ngắn gọn và rõ ràng là hay hơn. Không những thế trong giờ giải lao, thầy còn đưa ra bài toán khác cũng của sách Barachet, nhờ giải hộ. Được dịp trả đũa Brachet cười khẩy lấy giấy về luôn…nhưng, hơn nửa giờ trôi qua, bài bí vẫn hoàn bí, không sao giải nổi. Mồ hôi vã ra đầy trán. Brachet nói câu chữa ngượng, đại ý. Ấy cái toán hình Ô-clit này, nó vẫn thỉnh thoảng có vài hóc hiểm như vậy. Thầy Phùng điềm nhiên: “Theo tôi bài này muốn giải phải dùng phương pháp chứng minh ngược”. Thanh tra Brachet đứng phắt dậy, bắt chặt tay thầy Phùng lắc đi lắc lại: “Anh quả là thông minh! Tôi phục anh!” với thái độ đầy vẻ kính trọng.

Từ năm 1930 đến tháng 11 năm 1946, thầy dạy ở trương Bonnal. Tính thầy rất nghiêm, hay đòi hỏi cao ở học trò, rất ghét tính ỷ lại lười suy nghĩ và lười học.

Quá nửa thế kỳ đi qua, ký ức đã mờ sương khói, người viết bài này xin tạ lỗi cùng bạn đọc vì đã không sao nhớ được cách giải như thế nào. Vào những năm 1938-1941, mọi người học trò hay được thầy nhắc đến tên, nêu lên như một tấm gương sáng để mọi người noi theo, đó là anh Nguyễn Đình Thi. Anh đa tài, toán giỏi đã đành, văn Việt cũng rất hay (mặc dầu thời bấy giờ, Luận Việt văn hệ số 1 và mỗi tuần chỉ có 1 giờ), vẽ cũng đẹp. Cái bài chúc từ mừng thầy giáo vào dịp tết Nguyên đán hàng năm, hồi ấy, thường do anh Thi viết và trình bày hoa văn bằng màu nước. Mỗi năm tôi lại có một tờ, phải nói là rất thú.(.)

23-11-1946, Pháp khởi hấn ở Hải Phòng, chiến sự bùng nổ ngày một ác liệt. Thầy quyết định dẫn cả gia đình lê chiến khu Việt Bắc. Năm 1947, thầy gặp bác Hiếu, phái viên của bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, tại Tiên Du Bắc Ninh. Bộ giao cho thầy nhiệm vụ đi thành lập trường PTTH Ngô Sĩ Liên Bắc Giang và làm hiệu trưởng. Ban đầu tạm đặt tại đình Hồng Kiều, Yên Thế với vài lớp từ đệ nhị tới đệ tam. Năm học sau 1947-1948, trường chính thức đặt tại Tiên Lục, nơi vừa có chùa, vừa có đình, có cây giã hương cổ thụ (từ điển La Rousse có chụp hình) một vùng quê yên bình đầy thôn, đất đồi đỏ như son. Phong cảnh thơ mộng, tuyệt đẹp hồi đó, Tiên Lục thuộc huyện Lạng giang, gần cả Bố Hạ (cùng cam nổi tiếng) lẫn Nhã Nam (có đồn Gồ, bản doanh của nghĩa quân Đề Thám). Trong khoảng thời gian từ 1947 -1950, trường PTTH Ngô Sĩ Liên tiếng tăm lường lẫy khắp liên khu Việt Bắc vì các phong trào thi đua toàn diện nên rất được Bộ Giáo dục khen ngợi, coi là Lá cờ đầu của các trường trong Liên khu.

Năm 1951, Bộ điều thầy đi làm Phó giám đốc Sở Giáo dục liên khu Việt Bắc (Đặt tại làng Huống, tỉnh Thái Nguyên). Đến khoảng 1953-1954, Bộ lại điều về Bộ, đi học để chuẩn bị tiếp quản ngành giáo dục Hải Phòng.

1964 thầy nghỉ hưu và ốm, mất tại Hải Phòng năm 1969, thọ 70 tuổi.

Trong Kháng chiến chống Pháp, thầy nhiều năm là Chiến sĩ thi đua, đã được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng 3 và Huân chương Lao động hạng 3.

Một đời đi dạy học, hết sức tận tụy và liêm khiết, thương yêu học trò, đặt biệt là học trò nghèo, luôn tạo điều kiện giúp đỡ, khuyến khích tiếp tục học và học giỏi, tính tình cương trực, thẳng thắn, rất ghét kẻ xu nịnh.

Tuy là Giáo sư toán nhưng giảng Kiều thì tuyệt vời. Thầy hay dùng những chuyện danh nhân xưa để giáo dục học trò.

Khi làm công tác lãnh đạo, thầy tỏ ra có năng lực đặc biệt về tổ chức. Đối với đồng nghiệp dưới quyền, thầy hết lòng dìu dắt và luôn quan tâm tới đời sống mọi người. Do đó, bất kỳ ở cương vị nào, thầy cũng được quý mến, kính trọng.

Có những câu hỏi cảm động của trò xưa về thầy giáo mình: “cảm động và biết ơn nhiều nhất đối với chúng tôi là thầy giáo dạy toán, Lê Xuân Phùng. Qua những giờ dạy của mình, thầy Phùng cứ truyền dần vào chúng tôi nhiệt huyết của người Việt Nam yêu nước!” (Anh Lưu Văn Mẫu, phó ban Tài chính Trung ương Đảng, học sinh khóa 1941-1945).

Đám tang thầy Lê Xuân Phùng (mất ngày 7-12-1969) tức này 28 tháng 10 năm kỷ dậu) có cả mấy chục vạn người tiễn đưa, đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng nhân dân Hải Phòng.

TRẠCH LAN

(Hải Phòng , ngày 12-2-1996)

 
   
File đính kèm :

Đăng bình luận