Trang chủ
Thế hệ các nhà giáo qua các thời kỳ
NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA TÔI Ở PTTH NGÔ SĨ LIÊN

NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA TÔI Ở PTTH NGÔ SĨ LIÊN

Thày TRẦN LÊ TẤN - Nguyên Hiệu trưởng

I. THỜI KỲ DẠY HỌC

Về dạy học ở trường trung học Ngô Sĩ Liên, cụ Hiệu trưởng có nhận xét về tôi: "Ông giáo rất chịu khó, gần gũi học sinh và có cái đặc biệt là biết chịu thiệt và có đức tính hi sinh". Đó là những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi tôi về Ngô Sĩ Liên đầu năm 1948, thì trường đã ở Đồi Thông Tiên Lục, một cảnh trí gần chùa luôn có tiếng thông reo. Cụ Phùng nhận xét như vậy vì tôi sẵn sàng nhận những môn khô khan khó dạy mà các thầy đùn đẩy nhau, ngoài những môn chính là văn, toán, lý: đó là địa chất học đệ tam và thực vật học đệ nhị. Dạy vạn vật học đệ nhị, sách giáo khoa của Pháp để lại toàn cây mẫu được dạy là cây ở bên Pháp. Tôi quán triệt phương pháp nghiên cứu chọn các cây ở địa phương trong họ cây để dạy. Ví dụ về họ hoa chữ thập thì chọn cây cải, họ hoa hình cánh bướm thì chọn cây lạc, phối hợp với học sinh vẽ đẹp để vẽ những hình hoa hình quả trông ngang, trông trên xuống hoặc bổ dọc để minh họa bài giảng rồi sau đưa đi thực địa trên đồng ruộng của nông dân trên địa phương. Dạy vật lý, tôi  giao nhiệm vụ và khuyến khích học sinh sưu tầm: gương phẳng, gương lồi, thấu kính,  làm lăng kính, lăng kính có góc thay đổi. Có làm mới biết sức mạnh của học sinh. Có anh Lê Lam vẽ rất giỏi sau này thành họa sĩ. Có anh Nguyễn Đôn rất khéo tay làm giáo cụ trực quan rất khá. Do vậy làm đủ được các thí nghiệm xác định được hình thật, hình ảo, hỉnh thẳng, hình ngược, bé hơn vật, to hơn vật rất lý thú; sau đó dạy phương pháp dựng hình các ảnh do các dụng cụ quang học tạo nên. Do vậy học sinh tiếp thu được rất nhanh. Tôi làm được cả các thí nghiệm xác định được số đi ốp của thấu kính lồi. Dạy hóa, tôi đi bộ mấy chục cây số lên gặp bạn dược sĩ ở quân dược để xin ống nghiệm, ống thủy tinh, hóa chất, a xít sunfuric để làm thí nghiệm (trong kháng chiến hoàn toàn không có một tý gì để thí nghiệm).

Sử dụng sách Pháp để dạy học, cái bí nhất là danh từ khoa học Tiếng Việt. Loay hoay mãi mới biết người có quyển danh từ khoa học dịch từ Pháo của thạc sỹ Hoàng Xuân Hãn mà chỉ mượn được có 3 ngày. Tôi bèn mua mấy thếp giấy trắng, tháo tung sách ra phát cho mấy học sinh chữ đẹp chép mấy tờ, thu về chưa đầy hai ngày tôi đã có một quyển danh từ để dùng và cũng để anh em cùng trường tra cứu, đóng lại quyển sách như cũ, tôi trả người có sách đúng hạn ngặt nghèo.

II. THỜI KỲ LÀM HIỆU TRƯỞNG

Tình hình chiến sự năm 1950 vô cùng gay go. Giặc Pháp đóng ở phủ Lạng Thương (thị xã Bắc Giang hiện nay) thường đem quân mở rộng càn quét thành lập làng Tề, có lần càn lên xã Mỹ Thái chỉ cách Tiên Lục có một con ngòi, sau lại còn nhảy dù ở sân bay Kép. Nghỉ hè năm 1950, Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh quyết định chuyển trường sang bên kia sông Thương thuộc huyện Yên Thế để đảm bảo an toàn cho thầy và trò, nghỉ hè năm ấy một số giáo viên gia đình quá đông con quá khó khăn, có người cả nhà, có người cho vợ con về Tề, một mình ở lại theo kháng chiến. Thầy Cường xin chuyển lên Bắc Sơn, thầy Thành, thấy Chí xin chuyển lê Phú Thọ. Cụ Lê Xuân Phùng được bầu vào Ban chấp hành Công đoàn Giáo dục Liên khu và được tín nhiệm làm Chánh thư ký Công đoàn Giáo dục Liên khu Việt Bắc làm việc, tôi được cử thay thầy Lê Xuân Phùng làm Hiệu trưởng đúng vào lúc rất bộn bề khó khăn đó. Làm sao di chuyển được trường đến nơi mới cho kịp khai giảng bước vào năm học đầu tiên chuyển hệ bốn năm trung học  sang ba năm cấp hai phổ thông. Và khó khăn hơn cả là làm sao để không có giáo viên nào trốn về Tề. Tôi rất lo vì là giáo viên trẻ trong trường. Nhưng nghĩ trong trường mình là giáo viên duy nhất là Đảng viên ĐCSVN, vào Đảng là để hy sinh cống hiến, để lo trước thiên hạ. Hơn nữa nghĩ mình được tiếp thu một nền giáo dục gia đình lấy Trí, Nhân, Dũng, Chân, Thiện làm gốc, có thói quyen suy nghĩ và hành động theo bài gia huấn:

LÀM VIỆC

Sống phải làm việc:

Làm việc cho ta,

Làm việc cho nước.

Việc đáng làm trước,

Chớ để chậm lâu,

Việc đáng làm sau,

Chớ nên sao nhãng.

Làm mà hay đãng,

Công việc hỏng to.

Làm chẳng hay lo,

Khó nhọc vô ích.

Làm lấy làm thích,

Mỗi mong thành công.

Làm dốc một lòng,

Mới đạt mục đích.

Lại nhớ câu ông thân sinh nhắc lại khi tiến lên đường nhận nhiệm vụ dạy học: "Bất muội ký tâm, bất tận nhân tình, bất kiệt vật lực; tam giã khả dĩ vị thiên địa lập Tâm, khả dĩ vị dân sinh lập Mệnh, khả dĩ vị tử tôn tạo Phúc"

Tạm dịch là:

"Đừng làm mê muội lòng mình,

Đừng dùng bằng hết lòng tốt của người khác,

Đừng vắt cho kiệt vật lực,

Làm được ba điều đó thì tạm có thể;

Vì trời đất mà lập được Tâm

Vì đời sống của dân mà lập được Mệnh

Vì con cháu mà tạo được Phúc"

Lại có quyển "SỬA ĐỔI LỀ LỐI LÀM VIỆC" của XYZ luôn trong cặp để " học nhi thường tập chi" luôn luôn mở ra nghiền ngẫm và thực hành vận dụng. CHO NÊN TÔI GIÁM NHẬN TRÁCH NHIỆM. Hăng say làm việc và càng tự tin hơn, quan điểm quần chúng càng vững vàng hơn, và phải nhấn mạnh thêm là tôi có diếm phúc được vợ tôi luôn luôn động viên khuyến khích gánh vác mọi việc gia đình nuôi con, chăm sóc sức khỏe cho tôi nên tôi phấn khởi toàn tâm toàn ý vào việc trường. Bám sát dân, làm cho dân hiểu, khai thác tốt những phụ huynh trung kiên nhiệt tình, phối hợp chặt chẽ và sử dụng sức mạnh cán bộ đoàn và tập thể học sinh, nên việc xây dựng đủ lớp học phân tán lá tre, vách, lợp rạ, đi lấy lứa về cắm vắt, đào hầm hố phòng không, tổ chức học đêm, làm đèn dầu mang đi mang lại thuận tiện, cả bàn ghế gọn di động đeo được đi học… Các việc làm băng băng cảnh thầy trò khiêng lấy bàn ghế từ Bố Hạ về trong đêm trăng hành quân thay nhau khiêng như Quang Trung hành quân thần tốc ra Bắc Hà chỉ khác là luôn có tiến hò lơ hò lờ…Cảnh học sinh tập phòng không, dứt tiếng kẻng là học sinh từng em xuống hố một có mũ rơm y như là Rã Tràng tụt xuống lỗ ở bãi cát bờ biển…Cảnh học sinh tan học đi theo sườn dốc về các nẻo đường hướng về các xóm trong đêm, mỗi em một chiếc đèn hộp gip như đom đóm như sao sa rất ngoạn mục.

Về tổ chức giảng dạy, tôi đi sát các thầy giáo, giải quyết các khó khăn về tài liệu: gửi mua những sách mới nhất của Pháp soạn và xuất bản sau đại chiến thế giới lần thứ hai, cho nên gọn và phương pháp trình bày hay hơn các sách cũ trước chiến tranh, gửi mua được cả phấn viết tốt ở trong thành; toàn là các bậc phụ huynh đi buôn ra vào trong thành mua giúp.

Còn như làm gì để giữ được để không có ai về Tề. Tôi nắm chắc là những giáo viên về Tề chẳng qua là bất đắc dĩ vì khó khăn về vật chất quá, không ai muốn mang cái tiếng là bỏ kháng chiến, ai có về thì cũng là làm gì để sống chứ không phản lại Tổ quốc. Cho nên tôi rất chăm lo đời sống cho giáo viên: đến gặp Ủy ban để xin thóc cho giáo viên vì thực mới vực được đạo; không kịp thì vay thóc của những cha mẹ học sinh nhà giàu, quan hệ với các bậc phụ huynh “Mạnh Tường Quân”, để sau các cuộc họp hội đồng hàng tháng đông đủ giáo viên hai khu họp luân phiên khi ở Hả, khi ở Thễ được mời đánh chén một bữa tươi, ở Hả có ông Lý Đức cho ăn thịt dê, ở Thễ thì ông Lý Viên cho ăn thịt cầy, có thêm chất đạm và chất men sau những ngày canh cà chua lõng bõng kéo dài, rất phấn khởi…

Còn yếu tố tin người, tôn trọng người, khơi thác liêm sỉ của trí thức, nắm vững vật chất quyết định ý thức và ý thức cũng tác động trở lại vật chất, tôi cũng thành công là không ai về Tề. Trường hợp thầy Tiên, bố mẹ ở vùng địch bị địch càn quét, có tin không vui. Thầy Tiên không yên tâm muốn xin phép về giáp ranh Hải Dương thăm nhà. Tôi vào thỉnh thị tỉnh và xin phép cho anh. Tỉnh cương quyết không cho. Tôi về nói lại với anh Tiên để hiểu rõ là tỉnh sợ mất cán bộ và sợ trách nhiệm. Tôi rất băn khoăn và nói với anh là nếu anh cam đoan là thế nào cũng ra, về để biết tình hình để an tâm thôi thì tôi sẽ vào thuyết phục tỉnh. Anh Tiên nói: “Nếu anh xin phép được cho tôi thì tôi không để lụy cho anh và không phụ lòng tốt của anh đâu”. Tôi vào nói lại với tỉnh: “Các anh nên hiểu rõ trí thức là rất có liêm sỉ, rất tự trọng. Một con người tốt trước hết là phải hiếu với bố mẹ; nếu các anh không cho anh Tiên về thì chữ hiếu sẽ mách bảo cho anh là: “chẳng cho phép ta thì ta cũng cứ về; họ chẳng thương cha mẹ mình, mình phải thương cha mẹ mình chứ. Mà đã chốn về thì còn mặt mũi nào ra. Vậy là không muốn mất cán bộ nhưng lại đẩy họ vào bước đường bỏ hàng ngũ. Chi bằng cứ mạnh dạn tin và cho phép thì triển vọng không mất người cầm được nhiều phần chắc.” Tỉnh cuối cùng mới đồng ý nhưng là đồng ý miệng thôi không ghi vào đơn xin phép. Cuối cùng sau 10 ngày về anh Tiên mặc bộ quần áu nâu đi ra và tiếp tục an tâm dạy học. Tôi rất mừng, thở một hơi mạnh và đi ngay vào tỉnh báo cáo là anh Tiên đã ra. Tỉnh nói: “bây giờ tôi mới hiểu trí thức các anh, nếu không nghe anh thì mất anh Tiên là cái chắc”.

Lại một lần học sinh phải bảo là anh Tiên ở nhà bà cô cách trường 7 km bị máy bay bắn bị thương, người nhà đã cõng đi bệnh viện ở Lũa xa hơn khu Thễ 3-4 km. Tôi liền ăn vội bát cơm nguội, ngụy trang xe đạp và đi ngay. Đến nơi thấy anh Tiên nằm ở sân đình Lũa khu bệnh viện bác sĩ Võ Quý Huy, cùng với bao nhiêu người dân khác cũng bị máy bay bắn bị thương. Thấy tôi đến anh Tiên nói: “Đời tôi tàn rồi anh ạ, từ lúc được khiêng đến đây mới được quét vào vết thương một ít thuốc đỏ, vết thương nặng thế này, tôi vội vàng vào gặp bác sĩ Huy nói khó, ông ta ngần ngừ và nói gãy mấy cái xương sườn ở lồng ngực. Tôi cà kê hỏi han tình hình gia đình con cái bác sĩ. Tôi được biết hai ông bà có cậu con trai trình độ học lớp 3 nhưng xa trường để ở nhà học hành chểnh mảng hay chốn học và nói dối. Tôi nói nhà tôi ngay cạnh lớp học cấp 1. Nếu ông bà cho cháu đến ở với tôi, chúng tôi sẽ kèm cặp cháu, nhất định học tấn tới và rồi cũng sẽ có nhiều thói quen tốt cho mà xem. Hai vợ chồng tôi là nhà giáo cả mà, ông bà phấn khởi quá và nói: “Thế là chúng tôi gặp may rồi, chúng tôi sẽ gửi ông bà trông nom dạy dỗ cháu”; Bà vợ thúc ông chồng: “ Thế ông xuống xem giải quyết cho ông giáo bị thương ngay đi”. Tôi thở phào đi theo. Mười hôm sau, anh Tiên ra viện và tiếp tục dạy học…

Tôi thật bụng và hết lòng với anh em, với công việc, nên được đồng nghiệp tin cậy và không ngại khó khăn đoàn kết nhất trí thương yêu nhau như trong một gia đình lớn vậy. Những lần đi họp tỉnh về được cho những bao thuốc lá thơm ngon tịch thu được của những người buôn trong thành ra, tôi chẳng nghiện thuốc, đem về cho anh em cùng hút bên ngoài mưa phùn gió bấc trời rét căm căm, trong phòng dưới mái rạ cửa liếp mà ấm cúng lạ thường, trong gian khổ và thiếu thốn vẫn thẫy cuộc sống ngọt ngào…những đêm khuya đu thăm các pô pot học sinh ở các xóm về, một mình leo lên dốc đồi cụ Trinh về nhà, dưới ánh trăng lưỡi liềm thượng tuần trong sương lạnh mà thấy tuổi trẻ của mình khá hiên ngang và đẹp lạ thường. Nghĩ lại cũng rất đáng yêu, và suốt đời công tác, những ngày ở  Ngô Sĩ Liên là những ngày có nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất và tình cảm nhất đối với tôi.

File đính kèm :

Đăng bình luận