NGÔ SĨ LIÊN THỜI BOM MỸ

NGÔ SĨ LIÊN THỜI BOM MỸ

Thày VƯƠNG ĐÌNH CẦU

(Nguyên Hiệu trưởng 1970- 1973)

Tôi là giáo viên toán của trường trường PTTH Ngô Sĩ Liên, từ trong những ngày đầu tiên. Đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến đấu oanh liệt, trong đó cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có tầm vóc lớn lao nhất. Sau một thời kỳ thay đổi công tác, tôi được chỉ định về làm Hiệu trưởng của trường trong giai đoạn 1970-1973 là thời kỳ cả miền Bắc phải đương đầu với giã tâm “đưa Việt Nam trở về lại thời kỳ đồ đá” bằng không lực Hoa Kỳ. Tôi muốn ghi lại một vài hình ảnh về thời kỳ đó.

Có lẽ các thầy cô giáo, các em học sinh hôm nay không thể hình dung nổi cái gian nan vất vả thế hệ thầy trò chúng tôi trong những năm tháng này (ảnh đen trắng không ép plactic đã phai mờ…)

Tôi và các anh Ngô Quang Âm, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đạo Đảm chụm đầu ôn lại với nhau những thước phuim trí nhớ mà thôi.

Năm học 1971-1972 trường ta được lệnh đi sơ tán khỏi thị xã Bắc Giang. Sơ tán mà vẫn phải đảm bảo “dạy ra dạy, học ra học”.

Thế là, cả một cơ ngơi đồ sộ với hàng trăm bộ bàn ghế lim, hàng nghìn dụng cụ chai lọ thí nghiệm và đồ dùng dạy tốt chất lên vai người ra đi. Riêng công việc chuyên trở, gánh vác này cũng cực kỳ gian khổ tồi: Phải qua phà sông Thương (vì cầu đã bị phá sập), phải trách giờ cao điểm của ban ngày. Có lớp học sinh ít, bàn ghế nhiều không đủ 4 mà chỉ đủ 3 em một một bàn ghế ( như 9A chẳng hạn) phải tổ chức hành quân kiểu Quang Trung ra Thăng Long xưa kia, nghĩa là 2 người cõng một bộ bàn ghế, một người đi theo áp tải, rổi lần lượt thay nhau đi liên tục gần 10 km không nghỉ …

Lên tới cổ đèo xã Nghĩa Trung huyện Việt Yên, phải để ra hơn một tháng đào hầm hào xây lớp học rải quanh bốn cổ đồi. Hầm hào không được sai quy cách, sâu 1,5m rộng 60cm và có 4 hoặc 6 nhánh chạy ngang. Các lớp học phải có ụ nổi bao quanh hoặc phải làm chìm vào núi từ 1 đến 1,5m. Các hầm cá nhân hay tập thể đều phải có nắp hình chữ A. Trong lớp vẫn phải có đủ bàn ghế, bục giảng, bảng đen, khẩu hiệu. Tất cả học sinh đến trường đều phải đội mục rơm.

Ngoài chuyên môn ra, mọi sinh hoạt đều phải duy trì tốt như văn nghệ, thăm lớp, dự giờ, tuyển sinh…, tiễn đưa thầy trò lên đường nhập ngũ (thầy Trương Hữu Cường đã cùng các em lên đường đánh Mỹ dịp này) lao động xưởng trường, gặt lúa giúp dân, đắp đê phòng lụt ( con đê quay xanh Đa Mai đã được thầy trò trường tôn tạo hàng trăm mét khối đất)

Cuối năm 1972, sau những trận bom B-52, thị xã Bắc Giang bị tàn phá, trường ta cùng chung số phận này, toàn bộ các lớp nhà tranh bị san phẳng, khu nhà 2 tầng cũng đổ nát gần hết; sân trường ngổn ngang gạch ngói; gỗ đã, cành cây như một bãi chiến trường…

Tháng 1-1973, tuy tiếng súng tạm ngừng (vì hiệp định Pa-ri sắp ký kết) nhưng bom bi nổ chậm vẫn còn găm lại khắp khu vực nhà trường và ở toàn thị xã Bắc Giang, Ban giám hiệu và chi bộ Đảng vẫn quyết định phải tổ chức lực lượng về thu gom đồ đạc, bảo vệ của công, chuẩn bị cho ngày trở lại an toàn. Bài toán đặt ra là ai sẽ về? Học sinh hay thầy giáo? …Thế là thầy Nguyễn Ngọc Bích – Hiệu phó kiêm bí thư chi bộ Đảng nhà trường, thầy Nguyễn Đạo Đảm phó thư ký Công đoàn, thầy Nguyễn Văn Môn, thầy Trần Bá và cô Nguyễn Thị Do, đoàn viên TNCS HCM, tất cả là 6 người về gom đồ đạc trong 2 ngày… rất tự nguyện, không một ai nghĩ đến sự nguy hiểm đang đe dọa đến sinh mệnh của mình.

Về đến trường thấy cảnh tan hoang mà đau lòng, sự căm thù giặc Mỹ đã làm chúng tôi thêm rắn giỏi. Cuối cùng chúng tôi nhặt bằng hết những gì còn dùng được cho ngày mai như khung cửa, xà, kèo, gạch, ngói… đem lên nơi sơ tán. Người áp tải ô tô lên cổ đèo là thầy Bích. Năm học 1971-1972 có thể gọi là một năm học chiến trường vì nó hoàn toàn trong khỏi lửa, mọi hoạt động của nhà trường đều diễn ra trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn và luôn luôn bị đe dọa từ trên không xuống. Trong tỉnh ta, trường  Ngô Sĩ Liên bị tàn phá nặng nề nhất.

Trường PTTH Ngô Sĩ Liên hôm nay đã cao đẹp, sân trường đã bằng phẳng nhưng dưới làn sân gạch ấy là nhưng dấu ấn “hóa thạch” của một thời bom Mỹ, một thời gian nan và đầy tự hào. Mỗi thầy cô giáo, mỗi em học sinh của thời kỳ này đều có thể kiêu hãnh vì mình đã góp phần vào những chiến công ấy mà không mảy may tính toán, không một chút ngần ngại hi sinh vì sự nghiệp giáo dục…, Giờ đây, có lẽ không ai quên, tất cả đều được nhắc tới trong phòng truyền thống của trường với bảng danh sách các thầy cô giáo ngày ấy.

File đính kèm :

Đăng bình luận