GIAN KHỔ VÀ PHẤN KHỞI

GIAN KHỔ VÀ PHẤN KHỞI

Thày NGUYỄN DUY TÂN

(Nguyên hiệu trưởng 1973-1982)

Sau chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1972), Bắc Giang là một trong những trọng điểm bị hủy diệt nặng nề nhất. Thị xã chỉ còn là một bình địa đổ nát. Trường  Ngô Sĩ Liên cũng chịu chung số phận đó. Cả khu trường chi chít những hố bom. Quả nọ nổ chồng lên qua kia, đợt này, đợt khác… Tạo thành những cái ao lớn nhỏ khắp sân trường. Nhà học hai tầng được xây dựng từ những năm 1960 cũng bị đổ vụn, chỉ còn một gian đầu hồi chỏng trơ. Nguy hiểm hơn, đe dọa tính mạng thầy trò là không biết còn bao nhiêu quả bom chưa nổ, còn bao nhiêu bom cóc, bom bị giấu mặt, nằm trong lòng đất…

Phấn khởi, thắng lợi vì Mỹ buộc phải cam kết ngừng ném bom miền Bắc. Nhân dân nô nức trở về xây dựng lại nhà mình, xây dựng lại thị xã. Thầy trò  Ngô Sĩ Liên chung niềm vui đó. Từng đoàn, từng đoàn học sinh chuyên trở tre nứa, lá gồi bàn ghế từ nơi sơ tán (Nghĩa Trung) về trường cũ, thầy trò cũng chắt chiu nhặt từng viên gạch vụn, mau chóng dựng được dãy phòng học tranh nứa…

Tháng 10 năm 1973, tôi được về thay thầy Vương Đình Cầu (Hiệu trưởng) chuyển đi làm hiệu trưởng trường sư phạm 10+3 Hà Bắc.

Tôi phấn khởi trở lại trường cũ 7 năm xa cách. Ty Giáo dục giao trách nhiệm và tôi cũng tự xác định cho mình góp một phần xây dựng lại trường, xứng đáng với vị trí trung tâm của tỉnh, với truyền thống và bề dày lịch sử  Ngô Sĩ Liên mà tôi hằng yêu mến.

Ước mong như vậy nhưng bắt đầu từ đâu, từ cái gì, thì chưa được xác định . Thầy Cầu bàn giao cho tôi một căn nhà bé nhỏ dành cho Hiệu trưởng, vừa là nơi ăn ngủ, vừa là nơi làm việc, cũng đã là khá hơn so với tiêu chuẩn của thầy cô khác. Qua mấy ngày, thấy các thầy cô ăn ở chật chội, không đủ nước ăn, không có nơi vệ sinh, chiều chiều, sáng sáng, chạy tản vào trong xóm… Thật là ái ngại. Việc đầu tiên gọi là quyết định của Hiệu trưởng là phải xây ngay một cái nhà vệ sinh, dù chỉ là tạm bợ, nhưng tránh được sự phiền hà và giữ được “danh giá” của nhà giáo sau này có bao nhiêu công việc lớn hơn, quan trọng hơn, không ai nhớ đến nữa, nhưng tôi thì vẫn nhớ, vì ở đâu, trường bồi dưỡng, trường Sư phạm …công việc quản lý của tôi cũng chỉ tập trung vào ba việc lớn. Xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, chỉ đạo dạy tốt và học tốt.

Đầu năm 1974, tôi đề nghị Ty Giáo dục cho xây dựng ngôi nhà 2 tầng, mười phòng học như thiết kế cũ. Thực ra không còn thiết kế, mà lấy hình dạng, mẫu không gian còn lại để phục hồi lại 10 phòng học. Ngôi nhà mau chóng được hoàn thành và đưa vào sử dụng từ đầu năm 1975. Tiếp sau đó, tỉnh cho xây dựng  ngôi nhà 4 tầng 3 đơn nguyên, 15 phòng học, phòng thí nghiệm, phòng truyền thống, thư viện và hội trường…

Công việc kéo dài gần 2 năm mới hoàn thành. Có thể nói nó là một trong những công trình lớn nhất và đẹp nhất thị xã Bắc Giang lúc đó. Phóng viên nhiếp ảnh Văn Bang đã chụp ảnh cảnh học sinh tựu trường và được in trên trang nhất báo Nhân Dân, nhân dịp khai giảng 1977-1978. Thầy và trò trường  Ngô Sĩ Liên rất phấn khởi vì từ nay không còn phải dạy và học trong phòng học dột nát, thiếu ánh sáng, không phải lo quá nhiều về cơ sở vật chất. Cũng từ những năm xây dựng và phục hồi cơ sở vật chất, tôi hiểu rất rõ, muốn có chất lượng, muốn có học sinh giỏi, phải có thầy cô giỏi, phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên, phải chỉ đạo tốt việc dạy và học. Tôi nhớ lại và mơ ước…Có một thời, thầy Trần Cư làm hiệu trưởng, đội ngữ giáo viên  Ngô Sĩ Liên mạnh vào bậc nhất  tỉnh với những “cây đa cây đề” “ngũ tướng” “ngũ hổ” mà nói đến các trường bạn cũng nể trọng. Trong hoàn cảnh từ ngày 23-8-1965, Mỹ ném bom và bắn phá thị xã Bắc Giang, trường cấp 3  Ngô Sĩ Liên phải sơ tán và chuẩn bị gấp cho năm học 1965-1966, nhiều thầy giáo của trường đã lãnh trọng trách đi làm hiệu trưởng và xây dựng các trường mới như thầy Nguyễn Văn Hiếu về cấp 3 Yên Dũng, thầy Lê Như Hiếu về cấp 3 Việt Yên, thầy Lê Văn Đôi về cấp 3 Lạng Giang… Một số các thầy đi phục vụ chiến trường Miền Nam. Đội ngữ giáo viên mới mỗi năm một tăng theo tỷ lệ phát triển lớp ( từ 8 lớp năm 1972 đến 24 lớp năm 1978) đội ngũ bây giờ vừa có các thầy cô giáo già dặn, chín chắn và giàu kinh nghiệm như thầy Trần Văn Chút (văn), Trịnh Thăng (lý), Dương Tự Thăng (toán), vừa có các thầy cô trẻ mới ra trường, sung sức đầy nhiệt tình như thầy Ngô Phi Tấn (toán), thầy Nguyễn Văn Toán (lý), cô Vũ Ngọc Tuyết, Nguyễn Thanh Giang (văn), cô Nguyễn Thị Thái (sinh vật), cô Nguyễn Thị Sửu (hóa)… “ thợ cũ dìu thợ mới”. Thầy Chút dạy trước , cô Tuyết, cô Giang dự giờ, học làm theo rồi dạy sau. Các thầy cô bám trường bám lớp lặn lội gắn bó với học sinh suốt cả ngày, có lúc cả đêm. Mặc dầu cuộc sống sau chiến tranh, thiếu thốn đạm bạc, lương tháng 50, 60 đồng, 13 kg gạo… nhưng không khí ở tập thể  Ngô Sĩ Liên rất đầm ấm, có nhiều kỷ niệm sâu sắc không bao giờ quên…

Còn nói về học sinh thì thật là muôn hình muôn dạng. Có nhiều học sinh gọi là “cá biệt” hay bỏ giờ, bỏ lớp, thích đánh nhau, trêu chọc cô giáo, làm cho nhiều thầy cô chủ nhiệm mất ăn mất ngủ, nhiều lần phải khóc trước lớp. Nhưng đa số các em ngoan, chăm học, chăm lao động, có tài năng văn nghệ thể dục thể thao. Học sinh  Ngô Sĩ Liên luôn đứng đầu bảng trong các kỳ thi học sinh giỏi của tỉnh. Đội học sinh giỏi văn lớp 10 (hệ cũ) của thầy Trần Văn Chút, năm năm liên tục tư (1974-1978) xếp nhất tỉnh, những điển hình như: Cao Kim Oanh, Hồ Thị Lân, Ngô Quang Trung… đã từng đạt giải quốc gia hai môn văn và toán. Trong thi đấu TDTT (nhất là điền kinh) học sinh  Ngô Sĩ Liên cũng luôn đứng đầu với những thành tích xuất sắc về đồng đội và những vận động viên toàn năng như Đàm Trí Tâm, Đỗ Thị Thanh… Thế là chỉ trong thời gian ngắn, trường  Ngô Sĩ Liên đã trở lại vị trí trung tâm của tỉnh, của các trường PTTH Hà Bắc với quy mô lớn, cơ sở vật chất lớn nhất, dạy và học nổi trội nhất, liên tục là đơn vị tiên tiến và tiên tiến suất sắc.

File đính kèm :

Đăng bình luận