Trang chủ
Học sinh cũ
NHỚ VỀ MÁI TRƯỜNG XƯA THÂN ÁI

NHỚ VỀ MÁI TRƯỜNG XƯA THÂN ÁI

NHỚ VỀ MÁI TRƯỜNG XƯA THÂN ÁI

LÊ VÂN

(Nhà văn – học sinh khóa 1946-1947)

Một chiều cuối thu, tôi tình cờ gặp bạn cố tri – nhà văn Lê Bầu, ngồi nhâm nhi với nhau cốc bia  trong câu lạc bộ Ba Đình. Ông bạn chợt nhớ ra: “À này, sắp tới, Bắc Giang tổ chức ngày hội trường  Ngô Sĩ Liên, kỷ niệm 50 năm, to lắm. Ông có về? Nhân dịp này sẽ tập hợp bài để in ra một cuốn kỷ yếu… ông nên viết một bài gì đi”.

Nhiều người còn nhớ trường trung học mang tên cụ Đề Thám, người trai Cầu Vồng Yên Thế, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa xưa đã kiên trì và anh dũng chống Pháp suốt mấy chục năm ròng, làm cho quân thù nhiều phen thất điên bát đảo. Nhưng ngôi trường Hoàng Hoa Thám ấy chỉ có một niên học 1945-1946, đúng hơn là một niên học còn dở dang, ngày khai trường thì đã muộn, còn kết thúc thì không có. Vì cuộc kháng chiến chống Pháp đang âm ỉ, chỉ còn chờ dịp bùng nổ.

Trường trung học Hoàng Hoa Thám là tiền thân của trường trung học  Ngô Sĩ Liên sau này. Nó chỉ là một thoáng so với lịch sử dài lâu tròn nửa thế kỷ của trường, có thể “những người ngày xưa” đó, đến nay đã thưa vắng không còn bao nhiêu nữa. Có điều những ông lão còn lại đến hôm nay vẫn không thể nào quên một quãng ngắn ngủi trong thời thơ ấu đó.

Thị xã Bắc Giang nằm trên đường quốc lộ 1, giữa một miền đất trung du điển hình , bên bờ sông Thương. Mảnh đất đã từng thấm đẫm nước mắt của bao người vợ trẻ cơm nắm cơm gói từ dưới xuôi lẽo đẽo theo tiễn chồng lên đến mãi tận đây phải dừng lại. Trước mặt họ là con sông Thương – sông nhớ, nước chảy đôi dòng. Bên kia là bắt đầu chốn sơn cùng, thủy tận. Và xa kia là bóng hình nhỏ nhoi những người lính thú đầu đội nón chóp, vai đeo súng dài vẫn còn mải miết đi tiếp trên con đường Thiên Lý để tới miền quan ải.

Cái thị xã buồn, âm thầm lặng lẽ, với ít nhiều thơ mộng đó bỗng bừng dậy sục sôi lên trong những ngày mùa thu cách mạng. Lũ trẻ con chúng tôi thấy đất trời, cỏ cây, phố phường, con người, tất cả như đều đổi thay, mới lạ. Chẳng ai bảo ai mà đứa nào cũng chạy cuốn theo những cuộc diễu hành, mít tinh, để mà hò reo ca hát đến khản tiếng. Tôi may mắn hơn nhiều đứa, là được các ông anh bà chị giới thiệu, ông bạn chí cốt Trịnh Thân rủ rê.

Sau tôi lại rủ Ngọc Phan. Cả ba đứa đều được xung vào đội kèn trống của đội Thiếu niên tiền phong đầu tiên ở thị xã, do anh Trực và anh Canh phụ trách. Thân phụ trách trống cái, Phan trống con, còn tôi đánh phèng la… Lũ chúng tôi mặc đồng phục sơ mi trắng, quần sooc xanh, đầu đội ca lô, “hết ngày dài rồi lại đêm thâu” diễu qua các phố bước theo nhịp trống…ôi, thật hãnh diện biết bao trước mắt bạn bè và những người thân!

Những ngày sôi sục sắp qua đi. Trái tim đang còn dư âm náo nức chưa thôi thì lại được một tin mới: Tỉnh sẽ mở trường trung học.

Chao ôi, thế hệ hôm nay hôm nào đó nghe thông báo như thế hẳn cho là bình thường, chẳng mấy động tâm. Nhưng những người thuộc thế hệ trước thì xem đó là cả một sự kiện, tuy chưa đến mức động trời thì cũng cho là quan trọng vì xưa nay chưa từng có ở vùng đất này.

Ngày nay mà nói đến Bắc Giang hồi Pháp thuộc không có lấy một trường trung học thì ít ai tin. Nhưng đó là sự thật. Ai đỗ bằng tiểu học rồi, có điều kiện muốn học lên nữa thì phải ra thị xã Bắc Ninh hoặc ra mãi Hà Nội. Nhà Nước bảo hộ quy định trường trung học ở Bắc Ninh là để cho tất cả học sinh Bắc Giang và cả Lạng Sơn xa xôi kia nữa. Dưới thời Pháp cai trị, vào những năm 1940-1945, nếu tôi nhớ không nhầm thì cả tỉnh Bắc Giang mới có đâu một thạc sĩ, đôi ba tú tài, còn “đíp lôm” hết bốn năm trung học, còn gọi là đỗ Thành chung, trên lớp chín một chút bây giờ) thì đếm không hết 10 đầu ngón tay! Ngày ấy vào những dịp hè, nhiều đứa trẻ con như tôi nhìn thấy mấy bậc đàn anh ngoài phố, nhà giàu, ra Hà Nội học trường Bưởi về nghỉ hè ở nhà, mon thật sang, thật oách, nhìn mà thèm, về mà ước ao, đôi khi còn có chút đỗ kỵ ghét ghen.

Có lẽ vì trình độ dân trí của Bắc Giang như thế nên có trường trung học đầu tiên mở ta sau Cách Mạng tháng Tám chưa có đủ các giáo sư. Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như mới có các bộ môn về khoa học tự nhiên chưa có các môn về khoa học xã hội. Mà tiếng là trường trung học 4 năm nhưng chỉ có lớp đệ nhất và đệ nhị.

Tôi vào lớp đệ nhất, còn nhất với tôi vì đã qua lớp đệ nhất trường Bưởi nên được vào lớp trên.

Ngày khai trường sao mà náo nức. Sau những năm gian khổ, lúc phải “chạy loạn” máy bay phát xít Nhật, rồi ảnh hưởng của nạn đói kém năm 45, tiếp đến là những ngày say xưa “tham gia cách mạng”, lòng chúng tôi đã bắt đầu dịu lại, có ý thức hơn về sự học. Chúng tôi sắm sửa giấy bút rủ nhau tới trường

Năm mươi năm đã qua vẫn chẳng phai mờ trong trí nhớ tôi những gì đã diễn ra trong những ngày ấy, tất cả đã trở thành những ấn tượng, những kỷ niệm ấm lòng. Giờ đây dẫu có nhắm mắt lại tôi vẫn còn hình dung được gương mặt, dáng hình từng thầy học, thậm chí cả một số bài học mà các thầy đã học. Nhớ thầy Hiểu dạy lý. Bài “Vật lý nhập môn” thầy  nói về nguồn năng lượng diệu kỳ, thứ ánh sáng tuyệt vời đó. Nào Ôm, nào Von, và rồi nào Am-pe và Ê-đi-sơn, người làm ra được máy ghi âm kỳ diệu đến nỗi cà Nhà trắng lẫ tổng thống Mỹ cũng phải thức thâu đêm để tò mò thử nói vào máy rồi vặn nghe nói chính tiếng nói của mình, hồi hộp và thích thú như một đứa trẻ. Điều lý thú là chúng tôi còn được học cả thực hành. Cho dù sau này môn vật lý tôi còn được học cao hơn nữa, nhưng những kỹ năng từ đơn giản như cách nối dây, phức tạp như mắc nối tiếp và mắc song song, tôi vẫn không sao quên và làm đúng hệt như thầy đã chỉ bảo từ ngày ấy. Bọn học trò học troẹt chúng tôi mới ty toe học được mấy hột chữ mà đã “tỏ vẻ” một tấc đã không đến trời. Có lần một đứa đòi thầy định nghĩa thế nào là điện? Không ngờ một câu hỏi có tính nhập môn đơn giản vậy mà lại hắc búa. Thầy Hiểu bóp trán mãi mới trả lời: “Theo chỗ tôi biết thì cho đến nay vẫn chưa ai định nghĩa được chính xác nhất thế nào là điện, bản chất của nó là gì?”. Giờ đây 50 năm đã trôi qua, khoa học đã phát triển như vũ bão, có thể người ta có được một định nghĩa đúng nhất về nó, nhưng ngày đó là như vậy, liệu có ai tin chăng? Bao năm tháng bước chân trên trường đời, tôi không được gặp lại người thầy dạy vật lý tuyệt vời đó. Không hiểu thầy vẫn còn hay đã mất. Hy vọng mấy dòng này cũng là cách nhắn gửi tới thầy, mong nhận được tín hiệu hồi âm, chúng con đang ngày đêm mong nhớ.

Không như thầy Hiểu, người thầy dạy Anh văn thỉnh thoảng chúng tôi gặp ở Hà Nội . Thầy Thành, dáng người cao cao vẻ thư sinh. Vẫn mái đầu cúp cua, vén thêm cao vầng trán lồng lộng cho dù nay đã bạc trắng vì bao năm tháng truân chuyên. Thày ơi chiếc mũ phớt mốt - xăng  tuyệt đẹp để lại ấn tượng sâu đậm trong mỗi chúng con, cứ mỗi lần chào cờ buổi sáng thầy nhanh tay vo viên đút túi để rồi chốc sau lại đội lên đầu mà không hề để lại một vết nhăn ấy nay có còn không?

Nhớ tới người thầy từng được mẹ mình và những người đồng tỉnh quá yêu tặng cho danh hiệu “đẹp trai nhất Bắc Kỳ” nói tiếng anh chuẩn như người xứ sở sương mù ấy. Tôi lại không thể nào quên ông thầy dạy chữ Hán ỏ trường, chúng tôi gọi giáo sư Phách bằng thầy, nhưng ngoài đời chúng tôi gọi là cụ Cử Phách. Vì cụ từng đỗ cử nhân khoa thi chữ Hán cuối cùng trường Nam.

Thày Phách khai tâm cho chúng tôi qua cuốn Tam Tự Kinh. Cũng là mới học, mà chữ Hán viết theo lối tượng hình loằng ngoằng, bộ nọ, bộ kia rất phức tạp, sau này lại không tiếp nối nữa nên chữ thầy lại giả thầy. Nhưng những câu chuyện về đạo lý làm người như cha hiền, con hiếu, anh em hòa thuận, vợ chồng chung thủy, trên kính dưới nhường, con người sống phải có nhân, có nghĩa, phải có mục đích cao cả, thì vẫn nhỡ nằm lòng. Thày cho chép lời khổng tử: “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân ” và giảng: “cái gì mà mình đã không muốn thì chớ có làm cho người ”. Đặc biệt thầy hay nói câu: “vi nhân bất phú, vi phú bất nhân”. Chúng tôi rất lấy làm lạ: chính cụ là một trong số vài ba người giàu nhất tỉnh, thế mà …sau này tôi mới hiểu, cụ là người giàu tình, giàu nghĩa, hơn là người giàu tiền, giàu bạc. Đó là lối sang giàu riêng của những ai thấu hiểu đến cốt lõi của đạo khổng. Không như ai kia giàu có mà vô học, sống bất nhân bất nghĩa, bị người đời khinh ghét. Tới khi cự Cử Phách mất đi, mọi người càng hiểu cụ. Con trai cụ là một trí thức, giảng dạy triết học. Cha là một nhà nho, con giảng triết học Mác Lê nin. Xét cho cùng thì có gì mâu thuẫn lắm đâu. Chả thế mà có lần Bác Hồ đã nói: giả sử cụ Mác, cụ Lê-Nin có gặp cụ Khổng Tử…thì chắc họ cũng ngồi cùng và cười với nhau. “Những tư tưởng lớn thường gặp nhau” là vậy.

Như trên tôi đã nói, trung học Hoàng Hoa Thám là tiền thân của trung học  Ngô Sĩ Liên hôm nay. Trường trung học đầu tiên do Cách mạng sinh ra ở Bắc Giang, do hoàn cảnh lịch sử, còn rất sơ khai. Nó chỉ là khúc dạo đầu, nhưng là khúc dạo đầu cần thiết, lại mang một chủ âm đẹp, hứa hẹn một bản nhạc hoàn chỉnh, điểm tô thêm cho văn hóa Hà Bắc vốn đã có truyền thống, để ta có thể tự hào.

Nhà văn Lê Văn

(Cháu ruột cụ Lê Văn Trương học sinh Hoàng Hoa Thám 1946-1947)

File đính kèm :

Đăng bình luận